Chuẩn bị một chương trình sao lưu hoàn hảo trên MAC

Từ phiên bản Leopard của MACOS trở lên, ứng dụng Time Machine dùng để giúp người dùng sao lưu (backup) dữ liệu đã được Apple tích hợp sẵn vào trong bộ ứng dụng kèm theo miễn phí (người dùng có tìm thấy ứng dụng này trong folder Applications). Với Time Machine, người dùng hoàn toàn có thể thiết lập một chương trình sao lưu dữ liệu hoàn hảo để giúp cho dữ liệu trong của mình luôn được bảo vệ một cách tốt nhất.

Chuẩn bị

Đầu tiên, người dùng cần chuẩn bị một ổ đĩa cứng gắn ngoài. Mac không hỗ trợ sao lưu thông tin ra ổ đĩa cứng gắn trong (trong phiên bản Lion đã hỗ trợ tính năng này, tuy nhiên thực tế thì việc sao lưu ra chính ổ đĩa gắn trong của máy hoàn toàn không có ý nghĩa trong thức tế!) hay ra đĩa DVDR (phương tiện lưu trữ này thực sự không đảm bảo là hoàn hoả trong quá trình lưu trữ, cũng như giới hạn lưu trữ cũng chỉ khoảng 10 GB).

 

Có một lưu ý là ổ cứng gắn ngoài này phải là một ổ đĩa chưa chứa dữ liệu, vì khi sử dụng ban đầu với ứng dụng, máy tính sẽ format toàn bộ ổ cứng và chuyển thành định dạng riêng của chương trình Time Machine này (để từ lần sau, mỗi khi người dùng kết nối ổ đĩa này vào máy tính thì Mac sẽ tự khởi động Time Machine và lưu thông tin theo chương trình định sẵn). Bạn yên tâm rằng sau khi được format và dùng bởi Time Machine thì ngoài dữ liệu của chương trình này, bạn vẫn có thể lưu thêm những dữ liệu riêng khác được.

Vì lượng thông tin lưu là khá lớn nên người dùng nên chọn ổ đĩa cứng có dung lượng từ 320 GB trở lên. Hiện nay ngoài thị trường, ổ đĩa cứng gắn ngoài dung lượng 320 GB này có giá khoảng dưới 1,500,000 Đ.

Bắt đầu

Thường thì khi gắn một ổ cứng ngoài vào máy, chương trình Time Machine của máy sẽ hỏi bạn có muốn thiết lập ổ đĩa này thành ổ đĩa sao lưu dữ liệu không? Nếu không hiển thị thông báo này, thì đơn giản, lần đầu tiên bạn cần là khởi động chương trình Time Machine này một cách thủ công từ thư mục Applications.

Ở những chương trình sao lưu khác thì người sử dụng sẽ phải thủ công chọn những gì họ cần sao lưu, nhưng ở Time Machine thì lại ngược lại. Chương trình sẽ tự động sao lưu tất cả những gì trên máy tính của người dùng: tài liệu, văn bản, file nhạc, hình ảnh, các ứng dụng, file hệ thống, file thiết lập (settings)… có nghĩa là nếu cần bung thông tin ra, toàn bộ máy tính sẽ hoàn toàn như thời điểm thiết lập.

Để “tiết kiệm” đĩa cứng, người dùng có thể thiết lập những gì không cần phải sao lưu.Toàn bộ quá trình này chỉ mất không quá 2 phút. Khi bạn chọn Backup, chương trình sẽ bắt đầu. Quá trình này là khá lâu, do có thể máy sẽ phải chép khoảng 100 GB vào đĩa cứng.

Thiết lập chương trình sao lưu

Với phần Settings trong Time Machine, người dùng có thể thiết lập chương trình sao lưu phù hợp với nhu cầu cá nhân, có thể hàng ngày, hàng 10 ngày, hàng tháng. Đến thời điểm đó, chương trình chưa thấy đĩa cứng Time Machine được kết nối vào máy thì sẽ hiển thị thông báo nhắc người sử dụng. Còn sau lần đầu tiên, cứ mỗi khi người sử dụng kết nối ổ đĩa Time Machine vào máy tính Mac thì máy tính sẽ tự động kích hoạt chương trình và bắt đầu sao lưu. Khi đĩa cứng này đầy thì chương trình cũng tự động xoá bộ dữ liệu sao lưu cũ nhất và chép đè lên bộ sao lưu mới nhất này.

Lấy lại một file đã xoá

Đơn giản, người sử dụng chỉ cần kết nối máy tính và ổ đĩa Time Machine. Khởi động chương trình Time Machine, lúc nãy, một màn hình hiển thị từ tầng màn hình Finder, mỗi tầng là một thời điểm sao lưu. Bạn chọn tầng theo nhu cầu, lúc này, chương trình sẽ làm màn hình Finder quen thuộc. Bạn chọn file cần lấy lại và chọn Restore.Apple đã làm đơn giản mọi chuyện, kể cả những chuyện mà hầu như người dùng đều rất e ngại như sao lưu dữ liệu.

Theo thống kê cho thấy, với sự dễ dàng này, tỷ lệ người dùng máy tính Mac thường xuyên sao lưu dữ liệu cao hơn hẳn so với nhiều hệ máy khác. Apple hiểu người sử dụng muốn gì và Apple luôn thành công trong chinh phục cảm tình của người dùng.

Theo Thongtincongnghe

Bài viết liên quan