Công cụ xử lý IP trong mạng Internet (Phần 1)

Địa chỉ IP được xem là nền tảng của kết nối mạng dùng giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), là giao thức chủ chốt hiện nay trong mạng internet.
Có đến hàng ngàn công cụ khác nhau giúp bạn xử lý các vấn đề liên quan đến địa chỉ IP ấy. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người sử dụng cần nắm rõ cấu trúc của địa chỉ IP, cũng như cách phân chia chúng trong .

Vì thế, trước hết có lẽ chúng ta sẽ cần ôn lại một số vấn đề cơ bản về địa chỉ IP, để có thể phát huy hết khả năng ứng dụng của các chương trình tiện ích xử lý loại địa chỉ mạng internet này.

 

Địa chỉ IP

Giao thức TCP/IP đã nói ở trên, quy định mỗi hay thiết bị mạng đều phải được đánh dấu bằng một địa chỉ duy nhất, không trùng lắp, gọi là địa chỉ IP. Và bước đầu, chúng ta chỉ quan tâm đến phiên bản phổ dụng nhất hiện nay là IP phiên bản 4 (IPv4). Trong phiên bản này, địa chỉ IP gồm 32 bit, được viết theo dạng gồm bốn nhóm số thập phân, ngăn cách nhau bằng ba dấu chấm. Mỗi nhóm gồm tám bit dữ liệu (oc-tet) có giá trị từ 0 đến 255.

Các lớp IP chuẩn (Class)

Theo lý thuyết thì địa chỉ IP được phân ra làm 5 lớp (class), dựa theo giá trị của tám bit (oc-tet) đầu tiên trong địa chỉ. Bao gồm:

lớp A (từ 1-126), lớp B (từ 128-191), lớp C (từ 192-223), lớp D (từ 224-239), và lớp E (từ 240-255). Tuy nhiên, trong thực tế, chỉ có ba lớp địa chỉ A,B,C là được dùng để cài đặt cho các máy tính hay thiết bị mạng mà thôi.

Mặt nạ mạng (Subnet mask)

Mỗi địa chỉ IP sẽ gồm hai phần là địa chỉ mạng mà nó phụ thuộc (Network ID), và số thứ tự của nó trong mạng đó (Host ID), mặt nạ mạng (subnet mask) chính là công cụ để xác định ranh hai vùng đó. Subnet mask cũng gồm 32 bit tương tự như địa chỉ IP, và phân làm hai vùng, vùng bên trái toàn các bit 1, còn vùng bên phải toàn các bit 0. Như vậy, phần địa chỉ IP nằm tương ứng với vùng các bit 1 của Subnet mask được gọi là vùng Network, và phần còn lại là vùng Host của địa chỉ IP đó.

Có ba Subnet mask chuẩn là 255.0.0.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp A, 255.255.0.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp B, và 255.255.255.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp C.

Default Gateway

Về mặt nguyên tắc, thì một máy tính hay thiết bị có một địa chỉ IP, sẽ chỉ có thể gửi nhận thông tin trực tiếp với một địa chỉ IP khác có cùng Network ID với nó mà thôi. Khi muốn gửi sang một Network ID khác, máy tính phải gửi thông tin ra một địa chỉ IP được quy định là cổng xuất mặc định (Default Gateway). Cổng xuất mặc định này luôn phải nằm trên một Router hay một thiết bị có tính năng tương tự.

Dễ thấy nhất là các máy tính trong mạng gia đình có địa chỉ IP nằm trong khoảng từ 192.168.1.2 đến 192.168.1.254 nên luôn luôn có thể chia sẻ dữ liệu với nhau dễ dàng. Nhưng khi muốn truy cập internet, thì trong phần cấu hình địa chỉ IP phải có thêm thông số Default Gateway, thường là 192.168.1.1, và đó chính là địa chỉ của Router ADSL. Không có phần địa chỉ Default Gateway này, hoặc nó bị cấu hình sai, thì người dùng trong mạng gia đình sẽ không thể truy cập internet, dù Router ADSL và kết nối internet vẫn hoạt động tốt.

Cài đặt địa chỉ IP

Trong , bạn cài đặt địa chỉ IP bằng cách dùng menu Start – Control Panel – Network Connections. Sau đó, bạn bấm phải chuột trên kết nối mạng cần đổi địa chỉ IP, rồi chọn Properties. Trong cửa sổ vừa mở ra, bạn bấm chọn mục Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4) rồi bấm vào nút Properties ngay phía dưới. Nếu muốn máy tính nhận địa chỉ IP động, bạn bấm vào mục Obtain an IP address automatically. Nếu muốn nhập địa chỉ IP tĩnh, bạn chọn mục Use the following IP address rồi gõ vào ba giá trị tương ứng là địa chỉ IP, Subnet mask, và Default gateway.

Trong , thì bạn vào mục bấm phải chuột trên biểu tượng mạng ở khay hệ thống, rồi chọn mục Open Network and Sharing Center. Sau đó, bạn bấm chọn mục Change Adapter Settings ở menu bên trái, rồi bấm phải chuột lên kết nối cần cấu hình là Local Area Connection, hay Wireless Network Connection, và chọn tiếp chức năng Properties.

Trong cửa sổ Local Area Connection Properties, bạn bấm chọn mục Internet Protocol Version 4 (TCP/Ipv4), rồi bấm vào nút Properties phía dưới danh sách các giao thức. Trong cửa sổ thuộc tính địa chỉ IPv4, bạn chọn chế độ cấu hình địa chỉ IP cố định bằng tay (Use the following IP address), rồi gõ vào các mục IP address, Subnet mask, và Default gateway, tương tự như trên.

Trường hợp sau khi cài đặt mà địa chỉ IP bạn vừa gán cho máy tính đó bị trùng với một máy tính khác trong mạng LAN, thì ngay lập tức bạn sẽ nhận được thông báo lỗi là Windows – System Error và There is an IP address conflict with another system on the network. Nhiệm vụ của bạn khi đó là phải đặt lại một địa chỉ khác cho máy tính hiện tại.

Làm thế nào để tránh được việc bạn đặt một địa chỉ IP trùng với một máy tính khác trong mạng LAN? Và làm thế nào để có thể đặt địa chỉ IP cho card mạng mà không cần thực hiện quá nhiều thao tác như trên? Hai công cụ tiện ích sau sẽ giúp bạn thực hiện những mong ước đó.

Đầu tiên là công cụ IPSeizer (http://www.alexnolan.net/software/IPSeizer.exe). Nó giúp bạn khảo sát xem đã có những địa chỉ IP nào đang tồn tại trong mạng nội bộ mà bạn kết nối. Do máy tính cần đặt địa chỉ IP chưa có địa chỉ, nên bạn phải sử dụng chương trình này trên một máy tính khác, đang hoạt động tốt trong mạng LAN.

Không cần cài đặt, sau khi tải về, bạn chỉ việc thực hiện nó là được. IPSeizer sẽ phát hiện ra vùng địa chỉ IP của mạng LAN và đưa nó vào hai mục Start IP và End IP. Nhấn vào nút Start, và quá trình khảo sát mạng LAN sẽ bắt đầu. Tìm thấy máy tính nào, chương trình sẽ đưa nó vào danh sách, với các tham số địa chỉ IP (IP Address), tên máy tính (Host Name), địa chỉ card mạng (MAC Address), cũng như trạng thái kết nối vào mạng (WorkGrp/Dc)…

Sau khi khảo sát xong, bạn sẽ có thể chọn một địa chỉ IP bất kỳ, khác với các địa chỉ trong danh sách tìm thấy để đặt cho máy tính mới.

Còn để đặt nhanh địa chỉ IP cho một card mạng, bạn hãy dùng tiện ích Fast IP Changer (http://sourceforge.net/projects/winipchanger/).

Sau khi khởi động chương trình, bạn nhấn nút Get Adapter để nó nạp thông tin về các kết nối mạng đang có trong hệ thống. Với mỗi kết nối là các thông tin về cấu hình địa chỉ IP hiện tại, và bạn có thể nhấn nút Refresh để cập nhật lại các thông tin đó.

Cạnh phải của Fast IP Changer là bốn bộ tập hợp cấu hình địa chỉ IP, mang tên Config 0, Config 1, Config 2, Config 3. Với mỗi tập hợp cấu hình, bạn có thể nhập vào các giá trị IP Address, Subnet Mask, Default GW… phù hợp với các vị trí sử dụng và kết nối máy tính chẳng hạn như tại Công ty, Nhà riêng, Quán cà phê, Sân bay. Nhập xong mỗi tập hợp cấu hình, bạn nhấn nút Save để lưu lại. Và mỗi khi muốn gán tập hợp cấu hình nào cho card mạng, bạn chỉ việc bấm chọn nó, rồi nhấn nút Set là xong.

Nguồn: echip

Địa chỉ IP được xem là nền tảng của kết nối mạng dùng giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), là giao thức chủ chốt hiện nay trong mạng internet.

Có đến hàng ngàn công cụ khác nhau giúp bạn xử lý các vấn đề liên quan đến địa chỉ IP ấy. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người sử dụng cần nắm rõ cấu trúc của địa chỉ IP, cũng như cách phân chia chúng trong mạng máy tính.

Vì thế, trước hết có lẽ chúng ta sẽ cần ôn lại một số vấn đề cơ bản về địa chỉ IP, để có thể phát huy hết khả năng ứng dụng của các chương trình tiện ích xử lý loại địa chỉ mạng internet này.


Địa chỉ IP

Giao thức TCP/IP đã nói ở trên, quy định mỗi máy tính hay thiết bị mạng đều phải được đánh dấu bằng một địa chỉ duy nhất, không trùng lắp, gọi là địa chỉ IP. Và bước đầu, chúng ta chỉ quan tâm đến phiên bản phổ dụng nhất hiện nay là IP phiên bản 4 (IPv4). Trong phiên bản này, địa chỉ IP gồm 32 bit, được viết theo dạng gồm bốn nhóm số thập phân, ngăn cách nhau bằng ba dấu chấm. Mỗi nhóm gồm tám bit dữ liệu (oc-tet) có giá trị từ 0 đến 255.

Các lớp IP chuẩn (Class)

Theo lý thuyết thì địa chỉ IP được phân ra làm 5 lớp (class), dựa theo giá trị của tám bit (oc-tet) đầu tiên trong địa chỉ. Bao gồm:

lớp A (từ 1-126), lớp B (từ 128-191), lớp C (từ 192-223), lớp D (từ 224-239), và lớp E (từ 240-255). Tuy nhiên, trong thực tế, chỉ có ba lớp địa chỉ A,B,C là được dùng để cài đặt cho các máy tính hay thiết bị mạng mà thôi.


Mặt nạ mạng (Subnet mask)

Mỗi địa chỉ IP sẽ gồm hai phần là địa chỉ mạng mà nó phụ thuộc (Network ID), và số thứ tự của nó trong mạng đó (Host ID), mặt nạ mạng (subnet mask) chính là công cụ để xác định ranh hai vùng đó. Subnet mask cũng gồm 32 bit tương tự như địa chỉ IP, và phân làm hai vùng, vùng bên trái toàn các bit 1, còn vùng bên phải toàn các bit 0. Như vậy, phần địa chỉ IP nằm tương ứng với vùng các bit 1 của Subnet mask được gọi là vùng Network, và phần còn lại là vùng Host của địa chỉ IP đó.

Có ba Subnet mask chuẩn là 255.0.0.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp A, 255.255.0.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp B, và 255.255.255.0 dành cho các địa chỉ mạng lớp C.

Default Gateway

Về mặt nguyên tắc, thì một máy tính hay thiết bị có một địa chỉ IP, sẽ chỉ có thể gửi nhận thông tin trực tiếp với một địa chỉ IP khác có cùng Network ID với nó mà thôi. Khi muốn gửi sang một Network ID khác, máy tính phải gửi thông tin ra một địa chỉ IP được quy định là cổng xuất mặc định (Default Gateway). Cổng xuất mặc định này luôn phải nằm trên một Router hay một thiết bị có tính năng tương tự.

Dễ thấy nhất là các máy tính trong mạng gia đình có địa chỉ IP nằm trong khoảng từ 192.168.1.2 đến 192.168.1.254 nên luôn luôn có thể chia sẻ dữ liệu với nhau dễ dàng. Nhưng khi muốn truy cập internet, thì trong phần cấu hình địa chỉ IP phải có thêm thông số Default Gateway, thường là 192.168.1.1, và đó chính là địa chỉ của Router ADSL. Không có phần địa chỉ Default Gateway này, hoặc nó bị cấu hình sai, thì người dùng trong mạng gia đình sẽ không thể truy cập internet, dù Router ADSL và kết nối internet vẫn hoạt động tốt.


Cài đặt địa chỉ IP

Trong Windows XP, bạn cài đặt địa chỉ IP bằng cách dùng menu Start – Control Panel – Network Connections. Sau đó, bạn bấm phải chuột trên kết nối mạng cần đổi địa chỉ IP, rồi chọn Properties. Trong cửa sổ vừa mở ra, bạn bấm chọn mục Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4) rồi bấm vào nút Properties ngay phía dưới. Nếu muốn máy tính nhận địa chỉ IP động, bạn bấm vào mục Obtain an IP address automatically. Nếu muốn nhập địa chỉ IP tĩnh, bạn chọn mục Use the following IP address rồi gõ vào ba giá trị tương ứng là địa chỉ IP, Subnet mask, và Default gateway.


Trong Windows 7, thì bạn vào mục bấm phải chuột trên biểu tượng mạng ở khay hệ thống, rồi chọn mục Open Network and Sharing Center. Sau đó, bạn bấm chọn mục Change Adapter Settings ở menu bên trái, rồi bấm phải chuột lên kết nối cần cấu hình là Local Area Connection, hay Wireless Network Connection, và chọn tiếp chức năng Properties.


Trong cửa sổ Local Area Connection Properties, bạn bấm chọn mục Internet Protocol Version 4 (TCP/Ipv4), rồi bấm vào nút Properties phía dưới danh sách các giao thức. Trong cửa sổ thuộc tính địa chỉ IPv4, bạn chọn chế độ cấu hình địa chỉ IP cố định bằng tay (Use the following IP address), rồi gõ vào các mục IP address, Subnet mask, và Default gateway, tương tự như trên.

Trường hợp sau khi cài đặt mà địa chỉ IP bạn vừa gán cho máy tính đó bị trùng với một máy tính khác trong mạng LAN, thì ngay lập tức bạn sẽ nhận được thông báo lỗi là Windows – System Error và There is an IP address conflict with another system on the network. Nhiệm vụ của bạn khi đó là phải đặt lại một địa chỉ khác cho máy tính hiện tại.


Làm thế nào để tránh được việc bạn đặt một địa chỉ IP trùng với một máy tính khác trong mạng LAN? Và làm thế nào để có thể đặt địa chỉ IP cho card mạng mà không cần thực hiện quá nhiều thao tác như trên? Hai công cụ tiện ích sau sẽ giúp bạn thực hiện những mong ước đó.

Đầu tiên là công cụ IPSeizer (http://www.alexnolan.net/software/IPSeizer.exe). Nó giúp bạn khảo sát xem đã có những địa chỉ IP nào đang tồn tại trong mạng nội bộ mà bạn kết nối. Do máy tính cần đặt địa chỉ IP chưa có địa chỉ, nên bạn phải sử dụng chương trình này trên một máy tính khác, đang hoạt động tốt trong mạng LAN.

Không cần cài đặt, sau khi tải về, bạn chỉ việc thực hiện nó là được. IPSeizer sẽ phát hiện ra vùng địa chỉ IP của mạng LAN và đưa nó vào hai mục Start IP và End IP. Nhấn vào nút Start, và quá trình khảo sát mạng LAN sẽ bắt đầu. Tìm thấy máy tính nào, chương trình sẽ đưa nó vào danh sách, với các tham số địa chỉ IP (IP Address), tên máy tính (Host Name), địa chỉ phần cứng card mạng (MAC Address), cũng như trạng thái kết nối vào mạng (WorkGrp/Dc)…


Sau khi khảo sát xong, bạn sẽ có thể chọn một địa chỉ IP bất kỳ, khác với các địa chỉ trong danh sách tìm thấy để đặt cho máy tính mới.

Còn để đặt nhanh địa chỉ IP cho một card mạng, bạn hãy dùng phần mềm tiện ích Fast IP Changer (http://sourceforge.net/projects/winipchanger/).

Sau khi khởi động chương trình, bạn nhấn nút Get Adapter để nó nạp thông tin về các kết nối mạng đang có trong hệ thống. Với mỗi kết nối là các thông tin về cấu hình địa chỉ IP hiện tại, và bạn có thể nhấn nút Refresh để cập nhật lại các thông tin đó.


Cạnh phải của Fast IP Changer là bốn bộ tập hợp cấu hình địa chỉ IP, mang tên Config 0, Config 1, Config 2, Config 3. Với mỗi tập hợp cấu hình, bạn có thể nhập vào các giá trị IP Address, Subnet Mask, Default GW… phù hợp với các vị trí sử dụng và kết nối máy tính chẳng hạn như tại Công ty, Nhà riêng, Quán cà phê, Sân bay. Nhập xong mỗi tập hợp cấu hình, bạn nhấn nút Save để lưu lại. Và mỗi khi muốn gán tập hợp cấu hình nào cho card mạng, bạn chỉ việc bấm chọn nó, rồi nhấn nút Set là xong.

Bài viết liên quan