Công cụ xử lý IP trong mạng Internet (Phần 2)

Trong phần trước, chúng ta đã tìm hiểu về các khái niệm IP, Subnet Mask, Default Getway… Tiếp theo trong phần này ta sẽ chính thức làm việc với IP.

Kiểm tra khả năng hoạt động của địa chỉ IP

Để kiểm tra việc cấu hình địa chỉ IP đã được thực hiện hoàn tất hay chưa, chúng ta có thể thực hiện theo cách sau. Chọn menu Start – cmd (trong ) hay Start – Run – cmd (trong ) để mở cửa sổ dòng lệnh. Trong cửa sổ bật ra, bạn gõ lệnh ipconfig hay ipconfig /all, và toàn bộ các tham số hiện tại về việc cấu hình địa chỉ IP sẽ hiện ra.

Trong Windows XP, bạn kiểm tra trạng thái địa chỉ IP với giao diện đồ họa bằng cách bấm phải chuột trên biểu tượng kết nối mạng trong khay hệ thống góc phải dưới màn hình, rồi chọn Status. Nếu muốn xem nhiều thông tin hơn, bạn bấm vào nút Details trong cửa sổ trạng thái này.

Windows 7 thì cho phép người dùng kết nối cùng lúc vào nhiều mạng, khi kiểm tra, bạn bấm phải chuột vào biểu tượng mạng ở khay hệ thống, rồi chọn Open Network and Sharing Center. Cửa sổ mới này sẽ chứa các thông tin về các kết nối đang có trên (Active network). Nếu có kết nối không dây, mục Connections sẽ chứa thêm thông tin Wireless Network Connection cùng với tên mạng không dây mà nó đã kết nối.

Bạn nhấn chuột vào loại kết nối cần xem thông tin địa chỉ IP, chẳng hạn như Local Area Connection. Kế tiếp trong cửa sổ Local Area Connection Status, bạn nhấn nút Details, và cửa sổ Network Connection Details sẽ cung cấp đầy đủ các giá trị cần biết trong phần địa chỉ IP của kết nối ấy.

Một tiện ích nhỏ mang tên SNM IP adapter configuration (http://xelfera.net/drDownload/drIpAdapter.zip) có thể giúp bạn có được các thông tin về cấu hình địa chỉ IP mà không cần quan tâm đến việc bạn dùng hệ điều hành nào.

Không cần cài đặt, mỗi khi cần xem thông tin, bạn bấm vào tập tin drIpAdapter_UI.exe để có đầy đủ các thông số về mọi card mạng trong máy tính như địa chỉ IP, Subnet, DefaultGateway, DNS Server… Kèm theo đó là tình trạng hoạt động của card mạng trong hệ thống, cũng như trạng thái kết nối của nó.

Tiếp theo, để kiểm tra xem địa chỉ IP đã hoạt động tốt chưa, người dùng thường sử dụng lệnh Ping. Ta dùng lệnh PING trên máy tính vừa cấu hình xong và PING chính địa chỉ đó để xem nó hoạt động hay không. Kế tiếp, ta PING tiếp đến một địa chỉ IP khác trong mạng, như địa chỉ IP Default Gateway chẳng hạn, hoặc ta sang một máy tính khác trong mạng, rồi PING ngược trở lại địa chỉ IP mà ta vừa cài đặt trên máy tính này, để xem nó có phản hồi tốt hay chưa.

Nếu kết quả lệnh PING là khoảng thời gian phản hồi, tính bằng mili giây (ms), nghĩa là việc kết nối giữa hai địa chỉ IP đó hoạt động tốt. Nếu các phản hồi là thông báo lỗi, thì tùy mỗi loại lỗi mà ta sẽ có cách khắc phục khác nhau.

Một công cụ mạnh mẽ và miễn phí PingInfoView (http://tinyurl.com/pingview) sẽ giúp bạn tận dụng lệnh PING để kiểm tra các thông số cũng như chất lượng kết nối mạng trong từng thời điểm.

Tiện ích này cũng không cần cài đặt. Sau khi khởi động chương trình, bạn sẽ thấy trong vùng cửa sổ chính chưa có một thành  phần nào. Hãy nhấn nút Ping Options ở cạnh trái thanh  công cụ để bắt đầu.

Trong cửa sổ Ping Options, bạn nhập vào các địa chỉ mà bạn cần kiểm tra kết nối bằng lệnh Ping. Mỗi địa chỉ hay tên miền được gõ vào trên một dòng. Tham số Ping Timeout phía dưới xác định thời gian mà chương trình sẽ phải chờ gói tin Ping gửi đi có phản hồi. Nếu vượt khỏi thời gian này, mà chương trình vẫn chưa nhận được phản hồi, thì nó xem như gói tin đã bị lạc mất trên đường truyền. Như vậy tùy thuộc vào kết nối mạng đang có của bạn là nhanh hay chậm, mà bạn có thể thay đổi giá trị này cho phù hợp.

Thao tác Ping kiểm tra các địa chỉ đã nhập sẽ được lặp lại liên tục nếu như bạn đánh dấu chọn mục Ping again every, và số giây nhập vào ô trắng phía sau hộp chọn đó sẽ xác định khoảng thời gian giữa hai lần thực hiện.

Và muốn lưu lại danh sách các địa chỉ đã nhập vào, bạn đánh dấu chọn mục Remember addresses list.

Khi bạn nhấn OK, cửa sổ này sẽ đóng lại và quay về cửa sổ chính. Đồng thời, quá trình Ping kiểm tra sẽ được thực hiện. Mỗi địa chỉ cần Ping sẽ nằm trên một dòng tương tự như khi nó được nhập vào danh sách. Nếu đó là một tên miền thì tên của nó nằm ở mục Hostname, còn địa chỉ của nó sau khi được phân giải sẽ nằm ở mục IP Address.

Quá trình Ping sẽ thực hiện liên tục, nếu kết quả trả về là thành công, thì giá trị ở cột Succeed Count sẽ tăng lên thêm 1, còn nếu hết thời gian chờ gói tin trả về, hoặc ping thất bại, thì giá trị ở cột Failed Count sẽ tăng. Đồng thời với việc ping không thành công, thì tham số % Failed cũng cho bạn biết mức độ thất bại là bao nhiêu phần trăm.

Ngoài ra, để đánh giá chất lượng kết nối mạng đang có, bạn cũng nên quan tâm đến giá trị Last Ping Time, cho biết thời gian phản hồi của gói tin trong lần Ping gần đây nhất, và giá trị Average Ping Time, cho biết thời gian phản hồi trung bình cộng của tất cả các gói tin đã gửi đi.

Để tiến hành tải các địa chỉ cần Ping từ một tập tin lưu sẵn trên đĩa, bạn dùng menu File – Load Addressed From File. Còn để sao chép toàn bộ dữ liệu hiện tại vào tập tin văn bản thì bạn dùng menu Edit – Select All, sau đó chọn tiếp Edit – Copy Selected Items. Khi dữ liệu đã được chép vào bộ đệm, bạn có thể dán nó vào bất kỳ trình soạn thảo văn bản nào.

Một cách khác để bạn xuất các dữ liệu hiện tại, là dùng tính năng View – HTML Report – All Items để xuất toàn bộ dữ liệu, hay View – HTML Report – Selected Items để chỉ xuất thông tin Ping các địa chỉ mà bạn đánh dấu chọn mà thôi. Phần kết xuất sẽ xuất hiện trong trình duyệt mặc định và bạn có thể tiến hành lưu nó lại thành tập tin trên đĩa.

Chương trình còn cung cấp các lựa chọn bổ sung trong menu Options như hiển thị thời gian theo giờ quốc tế (Show Time In GMT), đánh dấu các kết quả Ping không phản hồi (Mark Failed Pings), luôn hiển thị cửa sổ chương trình trên cùng (Always On Top), báo chuông  khi có kết quả Ping lỗi (Beep On Failed Pings), và đặt biểu tượng lên khay hệ thống  (Put Icon On Tray).

Nguồn: echip

Bài viết liên quan