Công cụ xử lý IP trong mạng Internet (Phần 3)

Trong phần này, chúng ta cùng tìm hiểu về những khái niệm và tính năng cao cấp hơn về IP.

IP tĩnh và IP động

Một hay thiết bị mạng có thể được cài đặt địa chỉ IP bằng một trong hai cách: tĩnh và động. Nếu người dùng cài đặt địa chỉ IP bằng cách gõ một giá trị xác định vào mục cấu hình, ta gọi đó là cách dùng IP tĩnh. Nếu người dùng cho phép nhận địa chỉ IP từ một máy chủ DHCP chuyên phân phối IP, ta gọi đó là cách dùng IP động. Về nguyên tắc thì không có hai nào trong mạng được phép có cùng địa chỉ IP. Vì thế, cách dùng IP tĩnh tuy không cần phải xây dựng một máy chủ DHCP, nhưng chỉ dùng được khi có một số lượng nhỏ trong mạng. Còn cách dùng IP động thì địa chỉ IP của có thể bị thay đổi bất kỳ theo mỗi lần cấp phát, nên việc quản lý cũng sẽ phức tạp hơn.

Khi xem thông tin về cấu hình địa chỉ IP trong mục Network Connection Details, bạn có thể dễ dàng biết được địa chỉ IP đang được cấu hình tĩnh, hay động. Đơn giản là nếu mục DHCP Enabled thì nghĩa là địa chỉ đang có là do cấp phát động mà ra.

IP dùng riêng hay IP công cộng

Về mặt cấu hình mạng, thì hai máy tính trong mạng internet khi muốn giao tiếp với nhau đòi hỏi phải có hai địa chỉ IP khác nhau. Vấn đề là địa chỉ IP phiên bản 4 (IPv4) không đủ để thực hiện việc này. Nghĩa là các máy tính mà bạn đang sử dụng không thể nào mang các địa chỉ IP riêng biệt, đồng nghĩa với việc chúng sẽ không thể liên lạc với nhau.

Điều đó không xảy ra, vì người ta quy định một số dãy địa chỉ như 10.0.0.0 – 10.255.255.255, 172.16.0.0 – 172.31.255.255, và 192.168.0.0 – 192.168.255.255 là địa chỉ dùng riêng (Private IP), và tổ chức, cơ quan hay công ty nào cũng có thể dùng chúng để liên lạc nội bộ với nhau.

Muốn liên lạc ra ngoài, các máy tính của cùng một cơ quan sẽ cùng mượn tạm một địa chỉ IP công cộng (Public), và dữ liệu gửi về sẽ được Router ADSL phân tích để biết rằng phải trả về cho máy tính con mang địa chỉ Private nào trong mạng.

Network Info (http://tinyurl. com/networkinfotool) sẽ giúp bạn xác định hai loại địa chỉ này của máy tính đang sử dụng một cách nhanh chóng. Sau khi cài đặt và khởi động chương trình, bạn nhấn vào nút  để tiện ích Network Info quét lại toàn bộ hệ thống card mạng có trong máy tính của bạn. Sau đó, chương trình sẽ đưa các thông tin liên quan đến từng card mạng thông qua các giá trị tên bo mạch (Adapter Name), kiểu (Adapter Type), địa chỉ vật lý của nó (MAC Address),…

Tuy nhiên, phần mà bạn cần quan tâm chính là phần địa chỉ IP (IP Address). Phía sau thông số đó, bạn sẽ thấy đèn Private bật lên cho biết đó là một địa chỉ thuộc nhóm dùng riêng trong mạng nội bộ, hay đèn Public bật sáng, nếu địa chỉ bạn đang có thuộc nhóm địa chỉ công cộng trên mạng internet.

Để xem thông tin tương tự của các card mạng khác trong máy tính, bạn chỉ việc nhấn nút . Mỗi lần nhấn, chương trình sẽ chuyển sang một card mạng mới và xoay vòng.

Trường hợp địa chỉ IP mà bạn đang có thuộc nhóm Private, thì bạn hãy nhấn nút  để xem địa chỉ Public mà máy tính của bạn sẽ phải mượn tạm khi kết nối ra internet.

Sau khi kiểm tra, Network Info sẽ thông báo địa chỉ IP Public hiện tại của bạn mà nó tìm thấy, trên một cửa sổ nhỏ với dòng thông báo Your current Internet IP is.

Khi không thể nhận được địa chỉ IP từ DHCP

Một lỗi thường hay xảy ra khi dùng địa chỉ IP dạng động, là bạn thấy có một địa chỉ IP khi xem chi tiết như trên, nhưng máy tính của bạn lại không thể chia sẻ với máy tính nào khác, cũng như đi ra internet.

Để kiểm tra, bạn hãy bấm chọn menu Start, gõ vào từ khóa lệnh CMD rồi nhấn Enter. Trong cửa sổ dòng lệnh, bạn gõ tiếp lệnh ipconfig, và kết quả là bạn nhận được giá trị của mục Autoconfiguration Ipv4 Address sẽ có dạng 169.254.xxx.xxx. Nếu địa chỉ mà máy tính có được nằm trong vùng địa chỉ này, thì nghĩa là việc lấy địa chỉ IP động đã thực hiện không thành công, và máy tính đã tự động gán cho nó.

Thực ra, có vài tình huống có thể dẫn đến lỗi này, tình huống thứ nhất là không tìm thấy máy chủ DHCP, thường là do bạn đã không cấu hình Router ADSL để nó cấp phát địa chỉ IP động, hoặc bạn cấu hình sai, hoặc do Router ADSL bị hỏng.

Bạn sẽ thấy tiện ích Network Info cũng cung cấp thông tin về việc cấp IP tĩnh hay động. Nếu bạn đang cấu hình dùng IP tĩnh, thì tham số DHCP Server sẽ là N/A.

Còn trường hợp bạn đang cấu hình nhận IP động, và đang nhận được một địa chỉ IP có thể dùng được, thì phần DHCP Server sẽ cho biết địa chỉ IP của máy chủ DHCP đó. Thông thường ở nhà bạn thì Router ADSL là nơi cấp địa chỉ IP động, vừa là Gateway kết nối internet, nên hai địa chỉ IP này sẽ trùng nhau.

Trong trường hợp bạn đang cài đặt cho máy tính của bạn dùng IP động, máy tính lại không tìm thấy máy chủ DHCP nào, thì địa chỉ của DHCP Server sẽ là 0.0.0.0, còn địa chỉ IP Address sẽ nằm trong vùng 169.254.x.x. Tuy nhiên, do địa chỉ này không có giá trị sử dụng, nên đèn Private cũng sẽ không sáng. Trong trường hợp này, địa chỉ IP của Gateway cũng sẽ là 0.0.0.0 do nó không được cấp phát.

Phối hợp giữa cài đặt địa chỉ IP tĩnh và IP động

Để ngăn ngừa việc máy chủ DHCP không chịu cấp địa chỉ IP động, người ta thường sử dụng một kỹ thuật nâng cao để phối hợp giữa việc nhận địa chỉ IP động, và cài đặt dự phòng bằng một địa chỉ IP tĩnh để thay thế. Cách làm như sau:

Đầu tiên, trong cửa sổ Internet Protocol Version 4 (TCP/Ipv4) Properties, bạn vẫn chọn mục Obtain an IP address automatically để máy tính chấp nhận lấy địa chỉ IP động từ máy chủ DHCP. Kế tiếp, bạn chuyển qua thẻ Alternate Configuration để cấu hình IP thay thế. Bấm vào mục User configured, bạn hãy gõ một địa chỉ IP tĩnh mà chưa có máy tính nào trong mạng LAN đang sử dụng, kèm theo đó là Subnet mask và Default gateway tương tự như trên.

Với cách cấu hình này, khi khởi động, máy tính sẽ dò tìm máy chủ DHCP để nhận địa chỉ IP động. Nhưng nếu như không tìm thấy máy chủ DHCP, hoặc việc cấp phát địa chỉ IP động không thành công, thì địa chỉ IP tĩnh dự phòng mà bạn vừa cấu hình sẽ được sử dụng để thay thế.

Nguồn: echip

Bài viết liên quan